Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Tài nguyên dạy học

Vui cười

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > QUÀ MỪNG SN XUÂN SANG CỦA BẠN BÈ >

    TẢN MẠN NGÀY TẾT

    tet_500

    Khi cội mai vàng nở rộ trước sân

    Người bảo tôi, rằng: mùa Xuân đã đến.

    Xuân. Vậy là, sau những ngày tháng đỏng đảnh rong chơi, nàng Xuân đúng hẹn lại về, mang theo rực rỡ trăm hoa và nắng ấm.

    Buổi chiều ngày cuối năm, ngồi nhấm nháp tách trà thơm, ngắm nghía cội mai già, chợt nhớ mấy vần thơ của Mãn Giác thiền sư: "Xuân khứ, bách hoa lạc/ Xuân đáo, bách hoa khai/ Sự trục nhãn tiền cố/ Lão tòng đầu thượng lai" - Xuân đi trăm hoa tàn, Xuân đến trăm hoa nở, sự đời đổi thay trước mắt, thoáng chốc đã làm bạc trắng mái đầu.

    Tất nhiên, "hữu hình - hữu hoại", sinh - diệt - diệt - sinh là lẽ tự nhiên của trời đất tuần hoàn; cho nên, trong kiếp phù sinh, đâu ai thoát được vòng "sinh - lão". Biết vậy, sao lòng vẫn bâng khuâng, hoài niệm chút hương xưa?

    Mà, không hoài niệm, bâng khuâng làm sao được khi mà ký ức của ông lão tuổi sáu mươi cứ mãi ẩn hiện chập chờn những hình ảnh của một thời niên thiếu hồn nhiên và những ngày cuối năm nôn nao chờ đón Tết .

    "Cu kêu ba tiếng cu kêu,

    Cho mau đến Tết, dựng nêu ăn chè".

    Tết. Đó là những ngày đầu năm hết sức thiêng liêng; ngoài trời ấm áp nắng xuân; trong nhà ấm áp tình cảm đoàn tụ gia đình; làng xóm rộn ràng vui chơi lễ hội.

    Mấy mươi năm trước, khi cơ giới chưa can thiệp vào công việc nhà nông, con trâu phải đi trước cái cày giúp con người mỗi năm một vụ mùa vất vả một nắng hai sương mới làm ra hạt lúa. Quần quật từ lúc trời vừa mới sa mưa; đến khi trên đồng xôn xao hương lúa chín, người người, nhà nhà lại tất bật chuẩn bị mừng năm mới, nên hương tết dường như cũng vội đến sớm hơn.

    Năm nào cũng vậy, hễ xong mùa gặt hái thì chỉ có "Tết mới là quan trọng", còn mọi việc khác thì... "để đó, ra giêng rồi hẵn tính". Thế là, khắp miền quê thanh bình, đêm đêm bắt đầu thậm thịch âm thanh tiếng chày quết bánh. "Tết mà! Bánh trái gì cũng phải từ đủ tới dư, sang năm mới làm ăn khắm khá". Ai cũng nghĩ vậy, cho nên công việc chuẩn bị cho ngày Tết cũng lắm công phu, nếu là nhà nghèo ít gì cũng mươi ngày, còn nhà giàu có khi kéo dài cả tháng. Thế nhưng, dù ngắn hay dài ngày thì cũng phải tính toán cho xong việc trước ngày 19 tháng chạp để kịp sáng sớm ngày 20 tết lo tảo mộ ông bà. (Cũng nên nói thêm: bước qua ngày 20, dân gian không gọi là 20 tháng chạp mà thường gọi là 20 tết). Công việc tảo mộ tuy không có gì nặng nhọc nhưng ý nghĩa thì hết sức thiêng liêng. "Sống cái nhà, thác cái mồ".Ngày tảo mộ, các bậc cha mẹ bao giờ cũng dẫn con cháu đi cùng vừa để "giáo dục truyền thống gia đình", vừa để lớp người sau biết được nơi an nghỉ cuối cùng của tổ tiên và những người thân đã khuất.

    Xong việc tảo mộ, kế đến là việc quét dọn, sửa sang nhà cửa, chưng dọn nhang, đèn, hoa, trái lên bàn thờ tổ tiên, chuẩn bị cho ngày 23 tết: buổi chiều - dựng nêu để yễm quỷ trừ tà, buổi tối - đưa "ông Táo về trời" trình tấu việc thế gian.

    Bước qua ngày 24 tết, trẻ con không được phép trèo cây hái trái, người lớn cũng ngưng hết mọi công việc để tránh làm động đất. "Đầu năm như thế nào thì suốt cả năm cũng sẽ như thế đó". Vì vậy, bắt đầu từ những ngày nầy đến khi qua Tết, ai cũng phải hết sức nghiêm nhặt cữ kiêng. Trẻ con sợ đòn. Người lớn lo thiếu thốn. Cho nên, bánh mứt phải làm cho dư; gạo thóc mắm muối cũng phải mua sắm cho dư. Ngày tư ngày Tết, ngoài "thịt, mỡ, dưa, hành" còn phải có thêm "câu đối đỏ" dán trước cửa nhà. Có rất nhiều câu có nội dung tốt đẹp để chọn viết thành câu đối nhằm bày tỏ, bộc bạch với một quyền lực vô hình nào đó về ước mơ, mong muốn của lòng mình . Chẳng hạn như: "Môn đa khách đáo, thiên tài đáo. Gia hữu nhân lai, vạn vật lai"- Nhiều khách đến cửa, tất có thiên tài đến cửa. Nhà có người vào, tất có vạn của cải vào nhà.

    Người xưa - nhất là các cụ cao niên thường rất sợ những ngày tết quạnh hiu nên thường hay tủi thân, hờn mát và nhắc nhở cháu con đừng vì "mê công danh, quên nghĩa sinh thành; ham phú quý, quên ơn dưỡng dục" . Chính vì vậy, chính vì "hiếu nghĩa vi tiên"nêncàng đến gần ngày Tết, con cháu ở xa dù bận bịu công việc thế nào cũng phải gấp rút thu xếp, lo toan để kịp về đến nhà quây quần, đoàn tụ, anh em xúm xít làm lễ rước "cửu huyền thất tổ" hồi gia cùng cháu con vui ba ngày Tết. Lễ rước thường bắt đầu từ ngày 27 đến 29 Tết (nếu là năm thiếu) hoặc 30 (nếu là năm đủ). Rước sớm hay muộn còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nhà. Rước ông bà về thì trên bàn thờ phải trà nước, khói hương và cúng kiến cơm canh ngày ba bữa để gọi là phụng dưỡng như khi ông bà còn sống.

    Sau buổi cơm chiều của ngày giã từ năm cũ, mẹ chồng và nàng dâu- hai người đàn bà của hai thế hệ- càng nhích lại gần hơn, càng khắng khít, thông cảm với nhau hơn khi hai mái đầu một trắng một xanh cùng chụm vào nhau, cùng lúi húi lo nấu cho xong nồi bánh tét để kịp cúng giao thừa. Vào khoảnh khắc quan trọng và thiêng liêng đó, khi đình chùa đồng loạt gióng trống khua chiêng báo hiệu năm cũ kết thúc để bắt đầu một năm mới tốt đẹp hơn, người trong nhà từ lớn đến nhỏ cùng quây quần bên bàn thờ tổ tiên, lắng nghe con gì ra đời để đoán trước năm mới sẽ xãy ra điều hung kiết, rồi lần lượt thắp nén hương thơm để mừng tuổi, chúc thọ ông bà, cha mẹ. "Dục tu tiên đạo, tiên tu nhơn đạo. Nhơn đạo bất tu, tiên đạo viễn hỷ"- Muốn tu theo đạo để thành tiên, trước hết phải học đạo làm người. Đạo làm người mà không học, con đường học đạo tiên còn xa xôi lắm- Đó là "lời giáo huấn đầu năm mới" mà các bậc làm ông bà, cha mẹ thường dạy cho con cháu về bài học làm người.

    "Mùng một Tết ở trong nhà. Mùng hai Tết vợ. Mùng ba Tết thầy".

    Thật ra, cũng không thể nhớ để mà kể hết những tao nhân thi sĩ là tác giả của những vần thơ tạo thành những đường nét hài hoà trong một bức tranh hoàn chỉnh của mùa xuân.

     

    Hửng sáng ngày mùng một Tết, dù "hoa cỏ còn mờ hơi sương", nhưng "dập dìu tài tử giai nhân" đã xênh xang quần là áo lụa rủ nhau đi chùa thắp hương lễ phật, hái lộc đầu năm, rồi khi nắng chưa kịp lên cao đã vội trở về nhà hủ hỉ với ông bà cho hết ngày mùng một Tết.

    "Phụ hề sinh ngã. Mẫu hề cúc ngã. Ai ai sinh ngã, dưỡng dục cù lao. Dưỡng tử phương tri phụ mẫu ân"- Cha sinh ta, mẹ dưỡng dục ta. Dù sinh hay dưỡng, công ơn nào cũng bao la như biển như trời. Chỉ khi ta nuôi con mới biết rõ lòng cha mẹ. Xưa nay, "tứ ân phụ mẫu", dù là cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ thì đối với các bậc sinh thành, công ơn dưỡng dục cũng nặng như nhau. Có điều, con gái "có chồng phải gánh vác giang sơn nhà chồng". Sau một năm bận bịu "tam tòng, tứ đức", sáng ngày mùng hai Tết, người vợ mới cùng chồng con về nhà cha mẹ ruột để chàng rể chúc thọ cha mẹ vợ, cháu ngoại mừng tuổi ông bà nhân dịp đầu năm.

    Còn nữa, còn tình nghĩa thầy trò. "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư"- một chữ cũng thầy, mà nửa chữ cũng là thầy-  Người thầy cũng giống như ông lái đò đã dìu dắt đưa người lữ khách học trò qua đến bên kia bờ bến tìm đến tương lai. Cho nên, "Muốn sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ phải yêu mến thầy". Ngày mùng ba Tết là ngày mà cha mẹ phải có bổn phận nhắc nhở con cái, cùng con cái đến viếng thăm để bày tỏ lòng biết ơn đối với thầy học, nhất là với người thầy học từng cầm tay dạy nét chữ đầu đời.

    Sau khi làm xong bổn phận "đền ơn đáp nghĩa", cha mẹ con cái cùng tụ tập về nhà để làm lễ cúng gọi là "cúng tất" đưa tiển ông bà và những người thân đã khuất trở về với cõi tiên.

    "Cơm cha, áo mẹ, công thầy". Ba ngày Tết - ba ngày tuy ngắn ngủi nhưng cũng tạm gọi là một phần nào đó đền đáp ân sâu. Phải qua ba ngày nầy, nghĩa là đến sáng ngày mùng bốn Tết, người lớn trẻ con mới được phép bày các trò vui chơi lễ hội. Những cuộc vui nầy thường kéo dài đến chiều mùng bảy, cây nêu sẽ được hạ xuống sau lễ cúng Khai sơn. Như vậy là qua một cái Tết, người người hăng hái bắt tay vào những công việc của một năm vừa mới bắt đầu.

               Mấy mươi năm trước, ngày Tết đại khái là như vậy. Với những người mà tuổi đã xế chiều như thế hệ chúng tôi, những kỷ niệm của những mùa Xuân đi qua luôn hằn sâu trong nỗi nhớ, dù rằng, có thể trong mắt của nhiều người, đó chỉ là một ngôi nhà cũ
                kỹ, rêu phong.

    Trong thời buổi văn minh như hiện tại, một phần do ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng, một phần do cuộc sống bắt buộc phải nổi trôi trên dòng nước áo cơm, các bậc làm cha mẹ phải luôn tất bật với những lo toan sự nghiệp hoặc bận bịu với công việc mưu sinh, để mặc con cái sáng-chiều-tối- ngày ba buổi tự đến lớp, đến trường. "Măng lớn nhờ tre". Không có tre làm chỗ tựa nương, măng đứng một mình thì tránh sao khỏi ngã nghiêng khi gặp cơn gió dữ. Rồi trò đánh thầy; rồi con chém cha; rồi cháu hành hung, ngược đãi ông bà; rồi anh em ruột thịt kéo nhau ra trước cửa công chỉ vì miếng ăn mà tranh giành nhau từng thước đất... Vậy thì, có đúng không, do con cái quá ít thời gian gần gũi để được cha mẹ dạy dỗ, chăm sóc, yêu thương khiến tình cảm gia đình lần hồi tẻ lạnh, chính là nguyên nhân biến "những điều lẽ ra không nên có"trở thành là "chuyện thường ngày"?

    Tất nhiên, chúng ta không "hoài cổ", nhưng để cuộc sống không còn nỗi khổ tâm với" những điều trông thấy", trách nhiệm nầy đâu của riêng ai?

    Theo Internet


    Nhắn tin cho tác giả
    Lương Sỹ Hiệp @ 22:30 12/01/2013
    Số lượt xem: 843
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Thăm cô! Chúc cô năm mới vạn sự như ý!

     
    Gửi ý kiến