Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Tài nguyên dạy học

Vui cười

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > BÀI VIẾT VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH >

    HUẾ, KHỞI ĐẦU HÀNH TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

    1. Bối cảnh Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

    Vua Gia Long là người đầu tiên đã thống nhất Việt Nam sau hơn 2000 năm bị chia cắt. Đề cao Nho giáo lên địa vị độc tôn, nhưng Gia Long (1802 - 1820), Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841-1847) đều là những người biết giương cao ngọn cờ Phật giáo để thu phục nhân tâm với ý thức dân tộc cao, dù chưa được lòng dân thì độc lập nước ta vẫn được giữ vững.

    Vua Tự Đức (1848-1882) là người không thích làm vua chỉ thích làm thơ, sao nhãng việc nước, lại thi hành những chính sách không phù hợp với tình thế làm cho đời sống của nhân dân, trước hết là nông dân trở nên rất cơ cực. Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn vua quan nhà Nguyễn trở nên hết sức gay gắt. Đất nước Việt Nam vì thế đã nhanh chóng bị thực dân Pháp xâm lược. Kể từ đây Việt Nam bước vào thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài gần 100 năm.

    Từ tháng 7 năm Mậu Ngọ (31-7-1858), tư bản Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam. Sau khi đánh chiếm Gia Định, buộc triều đình nhượng đứt ba tỉnh miền Đông Nam Bộ (1862), lấy nốt ba tỉnh miền Tây (1887), thôn tính xong các tỉnh Nam Kỳ (1873), chúng bắt đầu đánh chiếm Hà Nội. Ngày 6-6-1884, thực dân Pháp buộc triều đình Huế phải ký hiệp ước Patơnốt, tước hết quyền dân tộc, dân sinh và dân quyền của Việt Nam.

    Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế điển hình. Mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp. Vua, quan Việt Nam chỉ đóng vai trò bù nhìn. “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó. Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia năm, xẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một “liên bang” gọi là Liên bang Đông Dương”[1].

    Về văn hoá, chúng thi hành chính sách ngu dân hòng nô dịch nhân dân ta trong vòng ngu tối. Các quyền tự do đều bị cấm. Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học và bệnh viện. Chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng văn hoá tiến bộ trên thế giới, kể cả văn hoá tiến bộ Pháp dội vào Việt Nam, nhưng lại khuyến khích văn hoá đồi truỵ, mê tín dị đoan...

    Về kinh tế, tư bản Pháp không phát triển công nghiệp nặng mà chỉ mở mang một số ngành trực tiếp phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác tài nguyên để cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp của nước Pháp. Chính sách độc quyền kinh tế của thực dân Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường, nơi vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân dân bằng thuế khoá nặng nề và nhân công rẻ mạt của chính quốc.

    Việc duy trì chế độ phong kiến để bóc lột bằng địa tô, lợi tức và các hình thức thuế khoá rất nặng nề của thực dân Pháp khiến các mâu thuẫn xã hội của Việt Nam ngày càng trở nên sâu sắc, càng đẩy nhanh quá trình cách mạng hoá nhân dân Việt Nam.

    Khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, nhưng phải mất gần 30 năm (1858 -1884) sau thực dân Pháp mới chiếm được nước ta.

    Chưa đầy một năm sau Hiệp ước Patơnốt, vua Tự Đức chết, Hàm Nghi lên nối ngôi (1885) đã cùng với Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn ra mật lệnh cho quân dân các địa phương không được hợp tác với Pháp. Năm 1886, Hàm Nghi rời khỏi kinh thành, lập căn cứ kháng chiến ở Tân Sở (Quảng Trị) và hạ Chiếu Cần vương cứu quốc.

    Nông dân là lực lượng đông đảo, yêu nước, là chỗ dựa của các cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc trong lịch sử. Nhưng, khi đối đầu với một kẻ thù mới - tư bản phương Tây - họ không thể vạch ra đường lối đúng đắn để tự giải phóng và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược đến những năm hai mươi của thế kỷ XX đã chứng kiến hơn 300 cuộc đấu tranh anh dũng chống đế quốc Pháp. Nhưng cuối cùng đều không giành được thắng lợi, không phải vì nhân dân Việt Nam thiếu ý chí giành độc lập, mà còn thiếu tri thức làm nền tảng tư tưởng cho việc ra đời một đường lối cách mạng đúng đắn.

    Đánh giá thực trạng xã hội nói trên, Nguyễn Ái Quốc đã có một phát hiện độc đáo: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”[2].

    2. Mười năm ở Huế của Nguyễn Tất Thành (1895-1901 và 1906-1909)

    Sáu năm, từ 1895 đến 1901, tuổi niên thiếu của Hồ Chí Minh đã gắn bó mật thiết với Huế. Ngày ấy gia đình Người đã sống tại ngôi nhà 112 Mai Thúc Loan, mà vốn trước đó là một trại lính của Nha Hộ thành triều Nguyễn bị bỏ phế sau sự kiện thất thủ Kinh đô 1885. Nơi đây, chính giai đoạn này, Người đã chứng kiến những tháng ngày tần tảo của mẹ, lo lắng của cha, hạnh phúc và bất hạnh của gia đình, quê hương. Người thấm thía nỗi đau mất mẹ, mất em và càng thấm thía nghĩa tình sâu nặng mà bà con lao động nghèo xứ Huế đã dành cho gia đình Người.

    Lần xa quê đầu tiên này, sống tại Huế, Người đã thường hay lui tới và tham dự các buổi cúng tế tại Miếu Âm hồn (ngã tư Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tông ngày nay). Miếu được nhân dân Huế tạo dựng vào khoảng năm 1895, nhằm hương khói, thờ cúng các anh hùng chiến sỹ và đồng bào đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập của dân tộc trong sự kiện bi hùng thất thủ Kinh đô 23 tháng 5 năm 1885 (âm lịch). Chính những hành động này của mình mà Người đã thấm thía những bài văn tế bi ai về số phận những con người đã hy sinh vì đại nghĩa, vì độc lập, tự do của dân tộc. Kỷ niệm tuổi thơ này là một phần quan trọng khơi dậy và hun đúc chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh sau này. Thời gian này, Người cũng đã được cha đưa về sống và học tập tại ngôi nhà của ông Nguyễn Sỹ Độ ở làng Dương Nỗ – Phú Vang (1898 -1900). Tại đây Người đã được cha và anh trai Nguyễn Sinh Khiêm kèm cặp học chữ Hán. Người cũng đã chứng kiến tinh thần lao động cần cù, nghĩa tình làng xóm của người dân quê mộc mạc qua vui chơi, nô đùa với bạn bè ở Đình làng, Am Bà và vùng vẫy trên sông Phổ Lợi. Tấm gương vượt khó để thành tài và tinh thần yêu nước của cha, tình quê mộc mạc ở Huế giai đoạn này là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này.

    Lần thứ hai đến Huế, bốn năm, từ 1906 đến 1909, sống tại ngôi nhà Dãy Trại (nay là 47 Mai Thúc Loan), Hồ Chí Minh đã học những năm tiểu học tại trường tiểu học Pháp - Việt Đông Ba (1906-1908), rồi vào học trường Quốc Học Huế (1908-1909) và đã từng tham gia phong trào chống thuế tháng 4 năm 1908 tại tòa Khâm sứ Trung kỳ (nay là Giảng đường I của Đại học Sư phạm Huế). Giai đoạn này, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã được Triều đình Nhà Nguyễn bổ nhiệm là Thừa biện Bộ Lễ trông coi việc học hành ở Quốc Tử Giám. Chính thời gian này, chứng kiến cha mình dù sống trong cảnh làng quan, nhưng vẫn giữ nếp sống giản dị, thanh nhã của đồ nho xứ Nghệ; chứng kiến sự chèn ép của thực dân Pháp với triều đình, cảm nhận và chia sẻ một cách sâu sắc những tâm tư của cha “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ - Quan trường là nô lệ trong đám người nô lệ lại càng nô lệ hơn”; giai đoạn này, hầu như Người đảm nhận chuyện chợ búa, nội trợ giúp cha, hàng ngày tận mắt chứng kiến cuộc sống tối tăm, bạc nhược của đám quan trường nô lệ, v.v, mà Người đã sớm thức tỉnh nỗi nhục của người dân mất nước. Từ đó nhen nhóm và nhân lên lòng căm thù thực dân, phong kiến, lòng yêu nước thương dân ở Người. Đặc biệt, những năm tháng học ở trường tiểu học Pháp – Việt Đông Ba và trường Quốc Học Huế, Người đã học để nắm vững tiếng Pháp, hấp dẫn bởi Tự do – Bình đẳng – Bác ái của giai cấp tư sản qua văn hóa Pháp, mà sau khi tham gia phong trào chống thuế tháng 4 năm 1908, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước ở phương Tây vào năm 1911.

    Những sự kiện liên quan trực tiếp đến đời sống ở Huế của Nguyễn Tất Thành nêu trên, cho thấy Huế đã hội gần đủ các yếu tố cấu thành cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh:
                1. Nếu Nam Đàn là điểm xuất phát của hầu hết các cuộc khởi nghĩa vũ trang tiêu biểu chống thực dân Pháp của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và là nơi sinh ra, trưởng thành hoặc là nơi trưởng thành của hầu hết các nhà yêu nước tiêu biểu của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thì Huế chính là nơi tập trung của hầu hết các cuộc đình công, biểu tình chống sưu cao thuế nặng của thực dân Pháp ở Việt Nam vào thời gian ấy. Chủ nghĩa yêu nước, thương dân của Hồ Chí Minh vì thế nếu được bắt nguồn từ truyền thống của gia đình nhà Nho yêu nước, thì chủ nghĩa yêu nước, thương dân ấy của Người được hun đúc, phát triển bởi chính truyền thống cách mạng của hai quê hương Nam Đàn và Huế, đặc biệt là 10 năm sống và học tập ở Huế của Người – Huế là nơi đầu tiên Người tham gia vào thực tiễn cách mạng của dân tộc.

    2. Nếu bà Ngoại của Hồ Chí Minh là người có công trong hoằng dương Phật giáo tại Nghệ – Tĩnh vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mà tuổi ấu thơ Người từng được nghe Bà Ngoại ru ngủ bằng kinh Phật, thì mười năm sống và học tập ở Huế bên cạnh Cha - Cụ Nguyễn Sinh Sắc không chỉ là một nhà nho yêu nước mà còn là người rất mến mộ Phật giáo (Cụ là một trong những người đầu tiên dịch kinh Phật từ tiếng Trung Quốc ra tiếng Việt và thực hiện chấn hưng Phật giáo ở Nam bộ năm 1920) – hơn thế, Huế chính là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam. Từ năm 1957, Hồ Chí Minh đã được các vị cao tăng của Ấn Độ phong tặng danh hiệu “vị Phật sống”. Bản thân Người, trong các thư gửi đến Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Phật tín đồ Việt Nam, Người luôn coi Đức Phật là tấm gương “đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn”. Sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo ở Hồ Chí Minh là rất tự nhiên, và vì thế không thể không kể đến tầm quan trọng của mười năm sống, học tập tại Huế - thủ đô Phật giáo Việt Nam - của Người.

    3. Cội nguồn Nho giáo của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng có thời gian hình thành, phát triển quan trọng là mười năm sống tại Huế: 1895-1901 và 1906-1909. Khoảng thời gian này, như đã trình bày ở trên, đây là khoảng thời gian Người bắt đầu đến trường và thành đạt về học tập, Người sống, học tập, lao động, rèn luyện bên cạnh người cha và anh trai mình. Tấm gương khổ luyện thành tài của cha, tinh thần yêu nước, thương dân của cha và anh trai (những nhà Nho yêu nước nổi tiếng của Việt Nam) đã tác động lớn đến nhân cách yêu nước Hồ Chí Minh. Bởi họ chính là những người thầy dạy chữ Hán đầu tiên của Người và cũng là những người đầu tiên có tác động mạnh nhất đến sự hình thành nhân cách của Người. Ngoài ra, Huế là thủ phủ của các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong và là Kinh đô của triều đình phong kiến trung ương tập quyền Nhà Nguyễn của Việt Nam. Ảnh hưởng của Nho giáo ở Hồ Chí Minh rất sâu sắc, nhất là triết lý tu thân. Người đã cải tạo, phát triển một cách tài tình các phạm trù đạo đức của Nho giáo để quy định các chuẩn mực đạo đức con người mới XHCN ở Việt Nam sau này.

    4. Huế còn là một trung tâm lớn của đạo Công giáo ở Việt Nam. Mười năm tuổi vị thành niên và thanh niên của Người tại Huế, vì thế nhất định đã chịu ảnh hưởng ít nhiều đạo đức nhân từ của tấm gương hy sinh vì sự cứu rỗi con người của Chúa. Điều này có thể lý giải được bằng 10 năm tìm đường cứu nước (1911-1920), thời gian trú chân tại Hoa Kỳ, Người đã đến nhà thờ cầu Chúa ban phước lành cho dân tộc Việt Nam. Sau này, khi đã là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam, đã trải nghiệm thực tiễn cách mạng dân tộc và cách mạng thế giới, Người đã trả lời câu hỏi “Người là ai?” của các nhà báo trong và ngoài nước nước rằng: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, Ki tô giáo có ưu điểm là lòng bác ái. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm chính là chính sách của nó phù hợp với những điều kiện của nước ta. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng… Tôi cố gắng làm một học trò nhỏ của các vị ấy”. Trong các bức thư Người gửi cho Giáo hội Công giáo Việt Nam và đồng bào Công giáo Việt Nam, Người luôn coi Chúa là tấm gương nhân từ, hy sinh cao nhất vì sự cứu rỗi con người.

    5. Khoảng thời gian vào học ở trường Tiểu học Pháp Việt Đông Ba, đặc biệt là thời gian học tập ở trường Quốc Học Huế, tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo, đổi mới của Người đã hình thành và phát triển. Điều này được chứng minh: khác với những nhà yêu nước tiêu biểu khác của Việt Nam thời ấy, hấp dẫn bởi dân chủ tư sản Người không đi tìm đường cứu nước ở phương Đông, mà ra đi tìm đường cứu nước ở phương Tây. Hành động này, sau này Người thổ lộ: Người rất đề cao tinh thần yêu nước của dân ta và khâm phục nhiệt huyết cách mạng của các lãnh tụ yêu nước ngày ấy, nhưng không tán thành con đường, phương pháp của họ. Sau này, khi thực thi dân chủ tư sản tại Pháp, Người đã từ bỏ chủ nghĩa dân chủ giả tạo, hình thức ấy để đến với cội nguồn cốt lõi của mình là chủ nghĩa Mác-Lênin.

    3. Huế, nơi xuất phát đầu tiên trong hành trình cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời, trước hết là giải quyết sự khủng hoảng về đường lối cứu nước của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời đáp ứng yêu cầu khách quan bức thiết của cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay. Cội nguồn của tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng văn hóa truyền thống của Việt Nam, tư tưởng văn hóa phương Đông, tư tưởng văn hóa phương Tây, chủ nghĩa Mác-Lênin và những phẩm chất cá nhân của Người.

    Phong trào yêu nước, khởi nghĩa vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nổ ra rầm rộ và rộng khắp nước nhưng đề thất bại không phải vì dân ta thiếu tinh thần cách mạng, các lãnh tụ của ta thiếu nhiệt huyết cách mạng, mà chính là cách mạng Việt Việt Nam thiếu con đường cách mạng khoa học như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận xét: làm cách mạng mà như cụ Phan Bội Châu thì có khác chi đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau, làm cách mạng mà như cụ Phan Châu Trinh thì có khác chi kêu gọi kẻ thù rủ lòng thương đối với ta đâu.

    Khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước của dân tộc Việt Nam kéo dài gần 100 năm. Con đường cứu nước do Người vạch ra là muốn cứu nước, cứu dân thì không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản. Cách thức tiến hành cách mạng vô sản ở Việt Nam do Người lựa chọn là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới tuân thủ di huấn của Lênin.

    Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác ngày càng rạng rỡ hơn: Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam là cuộc cách mạng giành chính quyền chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn nhất, tổn thất nhỏ nhất và chiến thắng lớn nhất xưa nay chưa từng có trong lịch sử nhân loại; Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 không chỉ bảo vệ được nền độc lập non trẻ của Việt Nam, mà còn đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa thực dân kiểu cũ do đế quốc Pháp đứng đầu trên phạm vi toàn thế giới; Đại thắng mùa Xuân 1975, mở ra kỷ nguyên mới Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội; Thắng lợi của Công cuộc đổi mới hiện nay đã và đang nâng vị thế của Việt Nam trên trường chính trị thế giới.

    Đảng Cộng sản Việt Nam – do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện – là người tổ chức, lãnh đạo và thực hiện mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nạm. Đồng chí Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: “Đất nước có hơn 4000 năm lịch sử, 54 dân tộc anh em  đã đoàn kết gắn bó nhau, thương yêu giúp đỡ nhau cùng chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Nhiều người đã ngã xuống, nhiều người bị thương tật, nhưng một Việt Nam đang phát triển, một Việt Nam đang hùng cường,  là niềm vui chung của chúng ta... Những thành tựu mà chúng ta đạt được trong thời gian qua, trước hết đó là thắng lợi của sự đoàn kết thống nhất, của sự đồng tâm hiệp lực, đùm bọc thương yêu lẫn nhau để cùng phát triển... Đó là thắng lợi của việc kiên định đường lối của Đảng, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, Người đã soi đường dẫn lối, dìu dắt dân tộc Việt Nam vượt qua thác ghềnh và hôm nay đạt được vinh quang”[3].

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Hồ Chí Minh với trí tuệ dân tộc và trí tuệ thời đại. Hồ Chí Minh với sự khổ công rèn luyện có tri thức uyên thâm về nhiều lĩnh vực, với bộ óc phân tích tinh tế, sáng suốt, với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, với tấm lòng yêu thương con người vô hạn, yêu nước nồng nàn, nhiệt thành cách mạng, Người đã hóa giải được tinh hoa văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, trí tuệ thời đại, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm cho dân tộc Việt Nam đang ngày càng sánh vai các cường quốc thế giới.

    Mười năm ở Huế, nhất là từ 1906-1909, Huế - một trung tâm văn hóa của Việt Nam, đã hội tụ nhiều yếu tố văn hóa Đông-Tây và có bề dày văn hóa dân tộc – là một tác động lớn với những dấu ấn sâu sắc đến tinh thần người thanh niên ưu tú Nguyễn Tất Thành. Nếu không nói Huế là một cội nguồn quan trọng của sự hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, thì với những điều đã trình bày trên đây, Huế chính là nơi xuất phát đầu tiên trong hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu không có 10 năm ở Huế, đặc biệt là những năm 1906-1909 với sự kiện trực tiếp cùng đồng bào Huế đấu tranh chống thuế tháng 4/1908 thì sẽ không có sự kiện ngày 5/6/1911 Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng ra nước ngoài tìm đường cứu nước.

    Mừng thắng lợi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và Kỷ niệm 81 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước(5/6/1911-5/6/2011), Kỷ niệm 121 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, Dân tộc ta nguyện mãi mãi kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở nền tảng của tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam”. Tư tưởng Người là di sản văn hóa vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình của thế giới. Huế mãi mãi tự hào là nơi xuất phát đầu tiên trong hành trình cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

     

    ThS Hoàng Ngọc Vĩnh, Đại học Khoa học Huế



    [1]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2, trang 116.

    [2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập1, trang 28.

    [3] Chủ tịch phát biểu tại Hội nghị biểu dương 243 già làng tiêu biểu tỉnh Tây Nguyên ở TP Plây cu (Gia Lai), ngày 30-3-2009, nguồn  Báo Nhân Onle ngày 30 tháng 3 năm 2009.


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Ngọc Vĩnh @ 21:44 06/06/2011
    Số lượt xem: 630
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Chúc cô Sang, gia đình và đồng nghiệp mùa hè vui, khỏe, hạnh phúc

     

    Avatar
    Dạ! em cảm ơn thầy nhiều!
     
    Gửi ý kiến