Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Tài nguyên dạy học

Vui cười

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > BÀI VIẾT VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH >

    Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin

    Hồ Chí Minh phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản

    và chủ nghĩa xã hội lên tầm cao mới trong điều kiện cụ thể của Việt Nam

    bac-docbao 

    1. Vào thời kỳ của Mác, Ăngghen, Chủ nghĩa tư bản đang phát triển đồng đều, hệ thống thuộc địa tuy đã được mở rộng nhưng phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc chưa phát triển. Vì thế, khi phân tích những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, Mác và Ăngghen đã tiên đoán khả năng cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra trước tiên đồng loạt ở các nước tư bản phát triển nhất, nơi những tiền đề vật chất của chủ nghĩa xã hội đã đạt đến độ chín muồi. Bởi ở đó chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị sẵn đất rồi, chủ nghĩa xã hội chỉ còn gieo hạt giống và gặt hái nữa mà thôi. Mảnh đất chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị cho chủ nghĩa xã hội chính là nền đại công nghiệp đã phát triển đến trình độ cao, và cùng với nó là giai cấp công nhân đã trưởng thành có kỷ luật tự giác cao, có trình độ, năng lực đáp ứng nền sản xuất vật chất đại công nghiệp phát triển.

    Các ông đã chỉ ra, đặc trưng của chủ nghĩa xã hội đích thực phải có nền đại công nghiệp phát triển cao hơn đại công nghiệp của chủ nghĩa tư bản phát triển ở trình độ cao, và phát triển dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; Có chủ nghĩa nhân đạo phát triển cao hơn nhân đạo chủ nghĩa của chủ nghĩa tư bản phát triển về giải phóng con người. Theo các ông, giữa xã hội tư bản và xã hội cộng sản là một thời kỳ cải biến cách mạng gay go, quyết liệt từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và Nhà nước của thời kỳ ấy là nền chuyên chính vô sản. Tính chất gay go, quyết liệt của thời kỳ quá độ này là ở chỗ: giai cấp tư sản mới chỉ bị đánh đổ về chính trị, nhưng đang nắm giữ các tiềm lực về kinh tế và luôn tìm mọi cách phục hồi quyền lực chính trị vừa bị đánh mất để duy trì, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Chính vì thế, ở thời kỳ quá độ này giai cấp công nhân không chỉ cải tạo đối tượng của mình, mà chủ yếu còn phải cải tạo chính mình để trở thành người chủ thực sự của chế độ xã hội mới.

    Như vậy, về cơ bản, lý luận của hai ông đều cho rằng các nước tư bản phát triển có thể đồng loạt tiến lên xã hội chủ nghĩa. Đồng thời ở thời kỳ của Mác và Ăngghen, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa tư bản đã được mở rộng, nhưng cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc chưa phát triển mạnh, bởi vậy, theo các ông, vận mệnh loài người, tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc vẫn phần lớn phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển.

    Sang thời Lênin, chủ nghĩa tư bản đang phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa giữa các nước tư bản đã tạo ra những khâu yếu trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc. Khi phân tích chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, Lênin cho rằng chủ nghĩa xã hội có thể thắng lợi thậm chí trong một nước tư bản riêng lẻ, miễn ở đó là khâu yếu nhất của sợi dây chuyền chủ nghĩa đế quốc. Lênin đồng thời đã nêu ra tư tưởng trong những điều kiện lịch sử nhất định, những nước lạc hậu có thể phát triển rút ngắn, bỏ qua, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội. Tính chất của thời kỳ quá độ này, theo Lênin là “cơn đau đẻ kéo dài” vì chúng ta phải xây dựng chủ nghĩa xã hội từ hai bàn tay trắng.

    Những điều kiện bỏ qua để có thể phát triển rút ngắn không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội theo Lênin là: a) Phương thức sản xuất bị bỏ qua đã tỏ ra lỗi thời về mặt lịch sử. b) Có sự giúp đỡ của giai cấp công nhân đã giành được thắng lợi ở nước tư bản phát triển hơn. c) Có đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân với đầy đủ kinh nghiệm và quyết tâm cùng toàn dân làm cuộc cách mạng giành được chính quyền về tay mình.

    Nếu Mác và Ăngghen chỉ ra kiểu thời kỳ quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội từ nước tư bản phát triển ở trình độ cao, thì Lênin từ thực tiễn mới của thế giới đã khẳng định “không có chủ nghĩa xã hội giống nhau cho mọi dân tộc, chỉ có chủ nghĩa xã hội phù hợp với từng dân tộc” và chỉ ra kiểu thời kỳ quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội với hai hình thức: a) Quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ nước tư bản phát triển trung bình. b) Quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ nước tiền tư bản hoặc kém phát triển.

    Dù thực hiện quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, nhưng để có chủ nghĩa xã hội đích thực, Lênin đã thống nhất với các đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội trong quan điểm của Mác và Ăngghen mà chỉ ra công thức “Chủ nghĩa cộng sản = Chuyên chính vô sản + Điện khí hóa và Tự động hóa toàn quốc”.

    Thời Lênin, cách mạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, nên Lênin cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa. Bởi vậy, tại Quốc tế III, Lênin đưa ra khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” thay thế cho khẩu hiệu thời Mác “Vô sản tất cả các nước liên hợp lại”. Trong quan điểm của Lênin, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước thuộc địa một mặt phụ thuộc sự thắng lợi của cách mạng vô sản ở nước chính quốc; mặt khác, nếu không phụ thuộc sự thắng lợi của cách mạng vô sản ở nước chính quốc, thì cũng phụ thuộc sự giúp đỡ của nước xã hội chủ nghĩa tiên tiến.

    2. Hồ Chí Minh phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin lên tầm cao mới về chủ nghĩa xã hội

    Trung thành với C.Mác, Lênin cho rằng: “So với những nước tiên tiến, thì đối với nước Nga, bắt đầu cuộc đại cách mạng vô sản là một điều dễ dàng hơn, nhưng tiếp tục cuộc cách mạng đó đến thắng lợi cuối cùng… lại là một điều khó khăn hơn”[1]. Như vậy, theo Lênin, so với những nước tư bản tiên tiến, Nga làm cách mạng vô sản dễ hơn nhưng để đi đến thắng lợi cuối cùng thì lại khó khăn hơn. Khó đến mức mà hiện nay nước Nga xã hội chủ nghĩa là không còn nữa.

    Trung thành với Lênin, khi nghiên cứu tình hình cụ thể các nước phương Đông, Hồ Chí Minh cho rằng với những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào Châu Á, dễ dàng hơn ở Châu Âu”[2].

    Quan điểm này của Bác hoàn toàn có căn cứ, có cơ sở khoa học: Điểm khác biệt giữa Á với Âu, Đông và Tây là ở chỗ ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất Châu Á lâu dài, dai dẳng, đã tạo nên một đặc điểm đặc trưng của phương Đông là việc không có sở hữu tư nhân về ruộng đất. Ở phương Đông đất đai dưới trời đâu chẳng là của vua, người trên đất đai ấy ai chẳng phải là thần dân của vua. Sau Hồ Chí Minh, nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam đã cho rằng cùng với chế độ “'lãnh hữu” chứ không phải “sở hữu” và ruộng đất các nước phương Đông dễ tiến lên chủ nghĩa xã hội, hơn chủ nghĩa tư bản.

    Nhưng để tiến lên chủ nghĩa xã hội và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là hai việc khác nhau. Cái thứ nhất suy cho cùng là tiền đề, cái thứ hai mới là mục đích. Hồ Chí Minh cho rằng thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều, rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng vĩ đại, vẻ vang nhất nhưng là cuộc cách mạng gay go nhất, phức tạp, khó khăn nhất, là cuộc chiến khổng lồ chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Qua thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong những năm qua, chúng ta càng thấm thía tư tưởng của Người.

    a. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

    Thứ nhất: Bằng việc đặt ra câu hỏi và trả lời câu hỏi “chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là gì?”, trên cơ sở tiếp cận chủ nghĩa Mác-Lênin từ các phương diện đạo đức, văn hóa, xã hội,.. tùy vào các đối tượng người Việt Nam khác nhau, các góc độ xem xét và mục đích của mỗi Hội nghị khác nhau, mà Hồ Chí Minh đưa ra nhiều định nghĩa về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

    Từ những quan điểm cụ thể khác nhau ấy của Người về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, có thể khái quát những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là:  Một: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một chế độ chính trị mà ở đó mọi quyền làm chủ đều thuộc về nhân dân. Hai: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một chế độ xã hội có nền kinh tế phát triển cao, với lực lượng sản xuất tiên tiến hiện đại và khoa học kĩ thuật tiên tiến hiện đại, dần xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất để thực hiện chế độ công hữu đối với tư liệu sản xuất. Ba: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là giai đoạn xã hội phát triển cao hơn CNTB về văn hóa, đạo đức. Bốn: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mới chỉ là một xã hội thực hiện công bằng hợp lý. Năm: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là công trình tập thể của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ấy chứa đựng trong đó một hệ thống các giá trị đặc thù, mà giá trị trung tâm là con người với các nhu cầu lợi ích của nó. Con người là mục tiêu phát triển. Chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là xã hội của con người, vì con người, chế độ xã hội đó mang bản chất dân chủ, nhân đạo trong tiến trình vận động xã hội loài người.

    Thứ hai, khi trả lời cho câu hỏi “Làm gì để có chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?”, Hồ Chí Minh đã xác định những mục tiêu xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ở cả phương diện tổng quát và cụ thể. Nội dung cơ bản của những mục tiêu ấy là: Một:  Phải xây dựng cho được Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hai: Phải xây dựng một nền kinh tế công-nông nghiệp tiên tiến hiện đại, khoa học và kĩ thuật tiên tiến hiện đại, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được xóa bỏ dần, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ngày càng được cải thiện. Ba: Phải xây dựng ngay lập tức và đi trước một bước là nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bốn: Phải thực hiện ngay nguyên tắc “làm tùy sức hưởng theo lao động”, đồng thời thiết lập quỹ phúc lợi công cộng để điều tiết thu nhập cho toàn dân. Năm: Phải lấy của dân, tài dân, sức dân mà làm lợi cho dân.

    Thứ ba, khi trả lời cho câu hỏi “Làm gì để có chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?”, Hồ Chí Minh đồng thời đã chỉ ra các động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Việt  Nam là: Một:  Động lực hiểu theo nghĩa rộng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sử dụng đồng bộ các đòn bẩy về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,.. kích thích tính tích cực của người lao động. Ở nghĩa rộng, Người nhấn mạnh hai nội dung: Tính đồng bộ trong sử dụng các đòn bẩy (đồng bộ giữa các nội dung kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội,.. đồng bộ giữa các địa phương, ban, ngành,..) và trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý và quản lý nhà nước trong sử dụng đòn bẩy. Hai: Động lực hiểu theo nghĩa hẹp trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề con người. Động lực con người với tư cách là con người cộng đồng, Người nhấn mạnh đó là Đại đoàn kết toàn dân tộc. Động lực con người với tư cách là con người cá nhân, Người khẳng định đó là con người mới xã hội chủ nghĩa.

    b. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

    Thứ nhất: Nếu diễn đạt như Mác, Ăngghen và Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa và phong kiến tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua phát triển tư bản chủ nghĩa. Người khẳng định tính chất của nó là cuộc đấu tranh một mất một còn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam.

     Tư tưởng này với thực tiễn đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không chỉ trung thành, mà đã vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện Việt Nam, làm cho lý luận quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội theo hình thức thứ hai của Lênin đầu tiên trở thành hiện thực.

    Thứ hai:  Trong điều kiện giáo điều, người ta đã quên lời dạy của Lênin “Không có chủ nghĩa xã hội giống nhau cho mọi dân tộc, chỉ có chủ nghĩa xã hội phù hợp với từng dân tộc”, bắt cả thế giới phải tuân thủ “một mô hình chủ nghĩa xã hội”, Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội có mục tiêu, nguyên lý chung giống nhau, nhưng mỗi nước có đặc điểm lịch sử cụ thể khác nhau nên phương thức, biện pháp, bước đi cách làm khác nhau. Người nhắc nhở, việc học tập những kinh nghiệm nước ngoài  là rất cần thiết. Nhưng Người cũng nhấn mạnh: “Ta không thể không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác”[3]. Làm khác, thậm chí làm trái với Liên Xô, ta vẫn là mac-xit.

    Tư tưởng này và thực tiễn cách mạng Việt Nam của Người, chứng minh sự đúng đắn, khoa học của tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và đổi mới của Người.

    Thứ ba: Hồ Chí Minh là người đầu tiên ở phương Đông chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế thị trường. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, ngoài quy định ruộng 5% cho nông dân, Người đã bàn nhiều về chế độ khoán trong sản xuất, Người cũng bàn nhiều về nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam.

    Thứ tư: Hồ Chí Minh là người đầu tiên trên thế giới chủ trương chia nhỏ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thành nhiều bước đi. Tuy không nói rõ phải chia thành bao nhiêu bước đi, nhưng từ các cách diễn đạt của Người về nhích dần lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thì Người đã chỉ rõ: quy mô, trình độ, tốc độ của mỗi bước đi phải tùy thuộc vào thành tựu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở mỗi thời kỳ. Và như vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, một trong những điều kiện tiên quyết của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Không có đại công nghiệp không thể nói đến chủ nghĩa xã hội.

    Thứ năm: Xuất phát từ trình độ rất thấp của Việt Nam, mà Người đã chỉ ra tầm quan trọng to lớn của quyết tâm dân tộc khi thực hiện mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Người từng dạy, làm chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam “kế hoạch 10 phần, thì biện pháp phải mười lăm phần và quyết tâm phải hai mươi phần”[4].

    Thứ sáu: Theo Hồ chí Minh muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải đảm bảo 4 nguyên tắc (Bốn nhân tố bảo đảm cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam): Phải đảm bảo một cách tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; Phải nâng cao trình độ, năng lực quản lý nhà nước đối với toàn xã hội; Phải mở rộng và tăng cường hoạt động chủ động và tích cực có hiệu quả của các tổ chức chính trị quần chúng; Phải đào tạo đủ đội ngũ cán bộ có đủ đức, đủ tài đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của lịch sử.

    Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam trên đây, là sản phẩm của sự kết tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của Việt Nam với tinh hoa văn hóa của nhân loại trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin, là sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin bằng trí tuệ uyên thâm về nhiều lĩnh vực của Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.

    3. Hồ Chí Minh phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin lên tầm cao mới về cách mạng giải phóng dân tộc

    a) Giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản vừa là sự lựa chọn duy nhất đúng con đường cách mạng Việt Nam, vừa là sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin của Hồ Chí Minh

    Với bộ óc cách mạng tỉnh táo, tinh tường, Hồ Chí Minh chỉ ra những nguyên nhân thất bại của cách mạng Việt Nam trước 1930 “trong điều kiện lịch sử mới, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nếu chỉ tiến hành riêng rẽ ở từng nước thì không thể đi đến thắng lợi. Sự thất bại của các phong trào yêu nước của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, không phải vì nhân dân ta thiếu anh hùng, các lãnh tụ thiếu nhiệt huyết cách mạng, mà vì các lãnh tụ của Việt Nam đã không thấy được đặc điểm của thời đại, không thấy được vai trò của nhân dân, nên chỉ tự nổi dậy như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, hoặc đấu tranh không thắng nổi thì đi cầu ngoại viện như Phan Bội Châu. Cái mà dân tộc ta thiếu là cần có con đường cách mạng giải phóng dân tộc đúng và khoa học”.

    Trên góc độ của người dân thuộc địa, góc độ của các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh đã phê phán một cách có căn cứ và hết sức sâu sắc chủ nghĩa đế quốc và đã chỉ ra rằng sức sống của chủ nghĩa đế quốc một phần quan trọng nằm ở các nước thuộc địa. Người khẳng định: “Hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các nước thuộc địa hơn là ở chính quốc”[5]. Từ đó, Người dùng hình ảnh “con đỉa hai vòi” mà chỉ rõ: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra”[6].

    Đây là điều quan trọng mà Hồ Chí Minh đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện mới. Tư tưởng này là sự cụ thể hoá và chứng minh cho quan điểm của Lênin về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản của các nước thuộc địa và các dân tộc bị áp bức để tiêu diệt chủ nghĩa tư bản - con đỉa có hai vòi – công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa nhất định phải đoàn kết được với giai cấp công nhân và nhân dân lao động của các nước chính quốc.

    Cùng với sự phân tích tinh tường, rút ra những bài học kinh nghiệm từ cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, luận điểm của Người “cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc như đôi cánh của một con chim”, đã giúp Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[7]. Đây chính là sự lựa chọn duy nhất đúng con đường cách mạng của Việt Nam, đồng thời là sự phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện mới của Hồ Chí Minh - Người đã gắn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng vô sản, gắn cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa, mang lại sự giải phóng triệt để cho con người Việt Nam.

    b) Chủ nghĩa Mác-Lênin đề cao vấn đề giai cấp, còn Hồ Chí Minh đề cao dân tộc nhưng không hạ thấp giai cấp.

    Mác và Ăngghen là những người đầu tiên đề xuất các vấn đề dân tộc của giai cấp vô sản, Lênin là người đầu tiên của giai cấp vô sản đã hoàn thiện chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã giải quyết các vấn đề cơ bản về dân tộc: Các hình thức cộng đồng người trong lịch sử; Các tiêu chí xác định một cộng đồng người là dân tộc; Các quyền cơ bản của dân tộc và các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các dân tộc; Vấn đề giai cấp gắn bó mật thiết với vấn đề dân tộc. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử mà những người sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đều đã tuyệt đối hóa vấn đề giai cấp hạ thấp vấn đề dân tộc. Cống hiến vĩ đại của Mác và Ăngghen cho nhân loại là “sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản” và “khi  xã hội có giai cấp thì đấu tranh giai cấp là một động lực phát triển của xã hội, đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản”. Cống hiến của Lênin khi bảo vệ thành công và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới là “chuyên chính vô sản” và “xây dựng đảng cộng sản kiểu mới”.

    Ở Hồ Chí Minh, không có giai cấp chung chung đứng ngoài dân tộc, hai phạm trù đó có liên hệ với nhau một cách uyển chuyển và biện chứng. Trong hoàn cảnh mất nước thì quyền lợi dân tộc được đặt lên trên quyền lợi giai cấp, vì có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp, tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi để giải phóng giai cấp. Theo Người, nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi được tự do cho dân tộc thì chẳng những quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không có được.

    Trên cơ sở phân tích xã hội phương Đông, Người còn cho rằng “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây... Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước... Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc... Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản... Một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời. Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, thì đã lâu lắm rồi, phần lớn thế giới sẽ xô-viết hoá và lúc đó, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế. Trong khi chờ đợi, chủ nghĩa dân tộc sẽ quấy rối chủ nghĩa đế quốc Pháp và bằng việc làm này, Quốc tế Cộng sản sẽ được lợi trực tiếp... Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó, nhất là trong một quốc gia đế quốc chủ nghĩa... thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam”[8]. Ở Hồ Chí Minh, dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau, có điều ở mỗi thời điểm lịch sử cụ thể thì cái nào nổi trội hơn nhằm đạt đến mục tiêu chiến lược và sách lược cụ thể nào trước mà thôi. Thực tiễn cách mạng 80 năm qua đã chứng minh cho sự đúng đắn của quan điểm này của Hồ Chí Minh. Đặc biệt với bối cảnh lịch sử dân tộc và nhân loại vừa qua, hiện nay, đề cao dân tộc không hạ thấp giai cấp là đóng góp vĩ đại của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin.

    3. Chủ nghĩa Mác-Lênin qua lăng kính của Người trở thành một cái gì đó cực kỳ dễ hiểu, giản dị, dung dị, gần gũi đối với tất cả mọi người.

    Bác giải thích thế nào là chủ nghĩa Mác-Lênin, sách vở mà sống không có tình, không có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được, hay hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin. Bác cho rằng muốn giữ gìn sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin thì trước hết tự mình phải trong sáng[9].

    a. Về quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân: Người mô tả quan hệ giữa cán bộ, Đảng, Nhà nước và nhân dân bằng hình ảnh vô cùng quen thuộc “dân là nước, cán bộ là cá, Nhà nước, cách mạng là thuyền, đường lối là la bàn, Đảng như người cầm lái (hay trí tuệ con người cầm lái)”. Cá tách khỏi nước sẽ chết. Nước có thể chở thuyền nhưng cũng có thể lật thuyền. Thuyền không có la bàn không biết đi đâu. Thuyền không có người cầm lái thì không chuyển động. Như vậy, thật vô cùng dễ hiểu, không có dân là không có tất cả, dân là gốc, là cơ sở, nước ấy dân làm gốc. Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân.

    Từ đó Người đưa ra tư tưởng dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của dân và xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người cho rằng thực hiện dân chủ là chìa khoá vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Hay một hình ảnh nữa, đoàn kết hay không đoàn kết, được Người ví như một bó đũa và một chiếc đũa đơn lẻ. Từ đó Người cho rằng đoàn kết tạo nên sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi, là thành công. Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công đại thành công.

    b. Về đạo đức cách mạng: Chủ nghĩa Mác-Lênin có bàn đến đạo đức giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Mặc dù đã vạch ra được những nguyên lý nền tảng của đạo đức nhưng vẫn còn khá chung chung, chưa thật cụ thể.

    Giống như C.Mác phê phán Hêghen, Người cho rằng đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức không phải từ trên trời rơi xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển. Đạo đức là nền tảng của người cách mạng, nó giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Hồ Chí Minh đã nhìn ra đạo đức có thể nhân gấp 10 lần sức mạnh con người, đã nhìn ra ở phương Đông một tấm gương có giá trị gấp trăm bài diễn thuyết, bởi vậy, Người chú trọng vấn đề đạo đức, đặc biệt xây dựng mẫu người toàn diện cả đức lẫn tài, cả tâm hồn lẫn trí tuệ và sức khoẻ, phải trung với nước, hiếu với dân, phải thương yêu con người, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, phải có tinh thần quốc tế trong sáng. Đối với Người, nói là phải đi đôi với với làm, phải làm gương “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, xây đi đôi với chống phải là phong trào của quần chúng nhân dân, và phải tu dưỡng đạo đức suốt đời giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

    c. Về đấu tranh giai cấp: Trên cơ sở phân tích tình hình xã hội phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, Người cho rằng cuộc đấu tranh giai cấp ở đây không diễn ra giống như ở phương Tây. Người cho rằng về phía Việt Nam người lao động, đó là sự không giác ngộ, sự nhẫn nhục và vô tổ chức, còn về phía bọn chủ thì không có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của những địa chủ hạng trung, hạng nhỏ và những kẻ ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở Châu Âu và Châu Mỹ, không có tỷ phú người An Nam. Những tên trọc phú ở đó thì ở đây chỉ là những kẻ thực lợi khá giả thôi. Cho nên, nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa, nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc, người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có Tơrớl. Người thì nhẫn nhịn chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình, sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó không thể chối cãi được. Từ đó Người kết luận: “Xã hội Đông Dương, Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây”[10].

    Từ phân tích về giai cấp xã hội các nước phương Đông và Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đi gần đến cái mà C.Mác gọi là phương thức sản xuất Châu Á vốn coi trọng là tính tự trị độc lập, biệt lập của công xã. Cái đặc trưng này theo Người dẫn đến sự thiếu tin cậy lẫn nhau, từ đó là nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông. Người viết: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự biệt lập. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau[11].

    d. Về con đường cách mạng: Với tính cách đặc thù nêu trên, Người đã đặt ra một vấn đề hoàn toàn chính xác khi cho rằng C.Mác cho ta biết sự tiến triển của các xã hội trải qua ba giai đoạn: “Chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản, và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không?”[12]. Bởi lẽ, ở phương Đông do ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất Châu Á kéo dài dai dẳng từ sau khi tan rã của công xã nguyên thuỷ cho đến tận những năm đầu của thế kỷ XIX, nên xã hội ở phương Đông và Việt Nam không thật điển hình như ở phương Tây (nếu theo hệ quy chiếu phương Tây). Từ đó Hồ Chí Minh cho rằng tùy hoàn cảnh mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau “Ta không giống Liên Xô... ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”[13]. Hồ Chí Minh cho rằng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà C.Mác ở thời mình không có được. Người cho rằng “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông, đó chính là nhiệm vụ của các Xô viết”[14]. Tại sao lại như vậy? Theo người: “C.Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử Châu Âu. Mà Châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”[15]. Từ đó Người lựa chọn con đường cách mạng của Việt Nam “lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa và phong kiến, không kinh qua phát triển tư bản chủ nghĩa”. Người xác định tính chất của nó là cuộc đấu tranh một mất một còn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.

    Người đã phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện cụ thể của các nước phương Đông và Việt Nam. Điều này hoàn toàn xa lạ với cái gọi là khuynh hướng xét lại chủ nghĩa Mác.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, nhà văn hoá lớn của thế giới. Người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam một cách có hệ thống và có tổ chức, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội lên một tầm cao mới đưa Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay trong công cuộc CNH, HĐH, thiết nghĩ những người giảng dạy và nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin phải học tập tinh thần phát triển sáng tạo ở Người để góp phần nhanh chóng đưa nước ta đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn mình.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

    2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

    3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

    4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.

    5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000.

    6. Lênin, toàn tập (tiếng Việt), Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcơva, 1978, tập 2.

    7. C.Mác-Lênin và Ph.Ăngghen, Chủ nghĩa Mác, Nxb Sự thật, Hà Nội 1958.



    [1] Lênin toàn tập (tiếng Việt), Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcơva, 1978, tập 2, trang 478.

    [2] Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 36.

    [3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8, trang 227.

    [4] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 10, trang 54.

    [5] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 1, trang 274.

    [6] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 1, trang 298; Tập 2, trang 120.

    [7] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 9, trang 314.

    [8] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 464-469.

    [9] Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, trang 272

    [10] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 465.

    [11] Xem Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 263.

    [12] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 465.

    [13] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 6, trang 227.

    [14] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 465.

    [15] Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1, trang 465.


    Nhắn tin cho tác giả
    Hoàng Ngọc Vĩnh @ 23:48 25/08/2011
    Số lượt xem: 4539
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    Chúc cô Sang vào năm học mới tràn đầy niềm vui!
    Avatar
    Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân. Em cảm ơn thầy Vĩnh nhiều!
     
    Gửi ý kiến