Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Tài nguyên dạy học

Vui cười

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Dân ca Xứ nghệ: Thử lòng chung thủy

    Chi_Sang_.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đinh Hữu Trường (trang riêng)
    Ngày gửi: 11h:45' 06-05-2012
    Dung lượng: 84.7 KB
    Số lượt tải: 0
    Mô tả:

     Trong ảnh ghi lại buổi tiệc hiếu của gđ chị Sang.

     

     

    GIAO DUYÊN LỜI CỔ

    Nghệ sỹ: Đình Toàn và Hồng Lựu

    Xứ Nghệ – Một vùng dân ca cổ

    Có người từng nói: dân ca xứ Nghệ chỉ quanh quẩn trong vùng, không đi đâu xa, không được người ngoài đón nhận, bởi thổ âm, thổ ngữ tiếng Nghệ khó nghe, khó hiểu. Vậy nhưng, dựa vào dòng dân ca này, rất nhiều nhạc sĩ đã sáng tác nên những ca khúc “đi cùng năm tháng”. Những nhạc sĩ là người Nghệ “xịn” như Nguyễn Tài Tuệ, An Thuyên, Tân Huyền đã đành, đến các nhạc sĩ là người Quảng Trị như Trần Hoàn, người Bắc như Đỗ Nhuận, người Quảng Nam như Thuận Yến… cũng có những bài hát rất hay được sáng tác trên nền chất liệu dân ca xứ Nghệ.

    Có người từng nói: dân ca xứ Nghệ chỉ quanh quẩn trong vùng, không đi đâu xa, không được người ngoài đón nhận, bởi thổ âm, thổ ngữ tiếng Nghệ khó nghe, khó hiểu. Vậy nhưng, dựa vào dòng dân ca này, rất nhiều nhạc sĩ đã sáng tác nên những ca khúc “đi cùng năm tháng”. Những nhạc sĩ là người Nghệ “xịn” như Nguyễn Tài Tuệ, An Thuyên, Tân Huyền đã đành, đến các nhạc sĩ là người Quảng Trị như Trần Hoàn, người Bắc như Đỗ Nhuận, người Quảng Nam như Thuận Yến… cũng có những bài hát rất hay được sáng tác trên nền chất liệu dân ca xứ Nghệ. Cái gì đã tạo nên giá trị đó? Dĩ nhiên, trước hết phải là tài năng của nhạc sĩ, nhưng nhạc sĩ của cả nước, dân ca dường như miền nào cũng có, mà không phải dân ca nơi nào cũng nuôi dưỡng được nhiều bài hát – dân ca hay đến vậy, được mọi miền ưa thích đến vậy. Rõ ràng vấn đề cần “giải mã”, một phần hẳn còn nằm trong đối tượng chúng ta quan tâm – dân ca xứ Nghệ. Dĩ nhiên, trong một làn điệu dân ca, một ca khúc phải có 2 phần, phần ca từ và phần âm nhạc; trong phần âm nhạc lại còn chia ra tiết tấu, giai điệu, chủ âm,… và chắc chắn yếu tố thổ âm trong dân ca xứ Nghệ đã góp phần vào sự thành công của các ca khúc mới, nhưng trong bài viết này chúng tôi chỉ khảo sát yếu tố ca từ.

    *

    *    *

    Một trong những đặc trưng nổi bật nhất của dân ca xứ Nghệ, nhưng ít được chú ý tới là tính chất cổ sơ. Thật khó xác định được dân ca xứ Nghệ ra đời từ lúc nào, trước hay sau dân ca vùng khác như: Hò bài chòi khu 5, Quan họ Bắc Ninh…, nhưng tính chất cổ sơ của nó có thể xác định được từ lý thuyết folklor. Bởi vì dân ca vốn sinh ra từ lao động, ban đầu nhằm tạo sự nhịp nhàng, sảng khoái cho lao động, để giãi bày tâm tư, tình cảm; về sau được dùng trong cả những sinh hoạt hàng ngày như phong tục, lễ hội. Loại hình dân ca nào gắn với lao động sinh hoạt đời thường là loại hình ra đời trước nhất, cổ nhất. Điều này có thể thấy rõ trong tên gọi các làn điệu dân ca của xứ Nghệ. Tên gọi các làn điệu dân ca xứ Nghệ mộc mạc, gắn liền với ngành nghề lao động quen thuộc của người Nghệ như: Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hát phường vải,… Đến cả thể loại dân ca được dùng rộng rãi nhất của xứ Nghệ là Hát dặm cũng được người Nghệ giải thích là hát “giắm” (giắm  xen vào – trong phát âm, người Nghệ không phân biệt “dặm” và “giặm”), một động tác của cấy lúa, trồng rau.

    Điểm thứ hai về tính chất cổ sơ của dân ca xứ Nghệ được thể hiện trong quan hệ giữa phần lời và phần nhạc. Phần lời của một làn điệu dân ca bao gồm những từ có nghĩa, tương ứng một lời ca dao và phần từ thêm vào (từ đệm, từ luyến/láy). Tuy nhiên, phần từ đệm, từ luyến/láy trong dân ca từng vùng cũng có sự khác nhau. Điều này góp phần tạo nên nét đặc sắc riêng cho dân ca mỗi vùng.

    Thí dụ, trong lời hát Trống cơm của dân ca quan họ:

    “Tình bằng có cái Trống cơm, khen ai khéo vỗ, ấy mấy vông nên vông.Một bầy a tang tìnhcon xít, một bầy a tang tình con xít, ấy mấy lội i lội, i lội sông ấy mấy đi tìm, em nhớ thương ai”,

    phần cơ bản là lời ca dao lục bát:

    Trống cơm khéo vỗ nên vông

    Một bầy con xít lội sông đi tìm

    chiếm tỷ lệ 14/45 từ. Có thể thấy số từ phụ được thêm vào trong lời dân ca quan họ trên đây vượt xa số từ của câu lục bát và trong số đó phần nhiều là từ đệm. Trái lại, ở dân ca xứ Nghệ, số từ phụ thêm vào thường không nhiều và chủ yếu lại là từ luyến/láy, đưa hơi. Thí dụ, trong ca từ của bài Hò khoan đi đường được Lê Hàm ghi trong cuốn Âm nhạc dân gian xứ Nghệ:

    “Ơ Hồng Sơn cao ngất mấy trùng, khoan ơ hỡi hò khoan, ơ Lam Giang mấy trượng, khoan ơ hỡi hò khoan, ơ thì lòng bấy nhiêu, khoan ơi hỡi hò khoan”(1),

    chúng ta có cặp lục bát:

    Hồng Sơn cao ngất mấy trùng

    Lam Giang mấy trượng thì lòng bấy nhiêu


    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Em đang tìm lời nhưng chưa như ý.

    Avatar

    Hoa đến thì thì hoa lại nở, anh đến bến đò thì đò đầy đò đã sang sông...Hay ghê em hí! 

    Avatar

    EM THĂM CÔ XS.

    Avatar

    Đẹp ghê em ơi! Già rồi cô thích làm chi cugnx khó em hí!

     
    Gửi ý kiến